Chuyện của tôi

Ngày đăng: 11/09/2020 11:05:02 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)

Nói thật xin các bạn đừng cười :” Nghề chọn tôi chứ tôi không có chọn nghề “ . Tại sao năm 1966 , tôi đậu Tú Tài 1 hạng ưu và bắt đầu dệt mộng, nếu năm sau đậu Tú tài 2 , tôi sẽ xin thi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh . Cũng    trong năm nầy, chính phủ có mở thêm Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia .Như vậy là có thêm một con đường để tôi lựa chọn . Tôi nghĩ hai trường hợp nầy dễ thực hiện vì thời gian học ngắn mà lương bỗng cũng khá, còn nếu lên Đại học thì Ban C chỉ học được Luật hay Văn khoa mà thôi, thời gian học lại quá dài thì làm sao gia đình tôi nuôi nổi .

Nhưng tôi bị vở mộng vì một sự cố, trong kỳ thi Tú tài 2 năm 1967 . Sau hai ngày thi suôn sẻ , tối lại có mấy thầy (giám thị coi thi) đi dạo chơi ở Bến Bắc Cần Thơ thì bị một số côn đồ vây đánh , mấy thầy nhận diện được trong số nầy có vài tên là thí sinh vi phạm kỷ luật phòng thi buổi sáng . Như vậy là họ đồng loạt bãi thi, mãi tới ngày hôm sau mới được tiếp tục bằng đề thi dự phòng .

Kết quả là  năm đó thí sinh của Hội Đồng Cần Thơ rớt thấy mà thương ,    trong số đó có tôi , mặc dù tôi cũng là học sinh được mấy thầy kỳ vọng . Vậy là tôi trượt Tú tài 2 một cách oan uổng . Lúc nầy  Ba Má tôi bảo phải tìm việc làm vì không còn khả năng lo cho tôi được nữa . Tôi thật bối rối , biết làm gì với bằng Tú tài 1, bắt chước một số bạn bè xin vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức thì tôi không dám , tôi ở trọ gần Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 43 Biệt Động Quân , hàng ngày chứng kiến  cảnh người đi không về , lính cũng chết , quan bé cũng chết ,quan lớn cũng chết. Có người mới cùng mình hôm trước uống cà phê , hôm sau nằm trong quan tài , bên trên phủ lá cờ vàng. Nghĩ tới đó là tôi “DỘI ”rồi .

Cuối cùng thì tìm ra một giải pháp , đó là thi vào Trường Sư Phạm Vĩnh Long . Nếu đậu sẽ được hoản dịch trong thời gian học ở đây .Lần nầy thì dự tính của tôi đúng, tôi đậu hạng 145/150. Ban đầu thì Khóa 6 chỉ tuyển có 150 ( có học bỗng ) sau đó tuyển thêm 300 ( không có học bỗng ). Như vậy toàn khóa có 450 giáo sinh , nhưng rồi rơi rớt dọc đường bởi nhiều lý do, đến khi tốt nghiệp chỉ còn vỏn vẹn 389 người . Số tiền học  bỗng bao nhiêu thì tôi không nhớ mà chỉ nhớ số tiền nầy đã giúp tôi một một phần cho việc trang trãi cuộc sống.

Hai năm lận đận rồi cũng chậm chạp trôi qua . Thi ra trường tôi đậu hạng 42/389. Với thứ hạng nầy tôi dư sức về dạy ở gần nhà , nhưng quê tôi ở trong vùng lửa đạn , bản tính thích phiêu lưu lại ham tiền nên tôi bằng lòng hoán chuyển với một người bạn để bạn ấy được ở lại Vĩnh Long, còn        tôi thì về Kiên Giang , số tiền thỏa thuận là 50.000 đồng. Cũng có một số bạn bè tỏ ra ác cảm với tôi về chuyện nầy chứ họ đâu biết rằng ba má tôi rất cần số tiền đó để trả số  nợ đã vay mượn mà lo cho tôi hai năm qua.

Tôi thì vì sĩ diện nên không nói ra thành thử cũng không ai biết . Cùng một con đường đến trường , họ thà để xe không, từ chối không cho tôi  quá giang , ban đầu thấy hơi tủi thân nhưng lâu dần rồi cũng quen .

Có được tiền ba má tôi đi ngay lên Sài gòn để trả lại cho người chú . Chú nhận nhưng sau đó đưa lại hết cho ba má tôi với lời nhắn :  Đây là số tiền tôi thưởng cho thằng Lực để nó mua xe ”.  Còn gì mừng hơn khi mơ ước của mình sắp trở thành hiện thực . Với số tiền trên tôi thừa để mua một chiếc Honda mới , nhưng từ lâu tôi thích xe Vespa hơn , nay xem như có “ cốt ” rồi , chỉ cần dành dụm một thời gian nữa thì tôi sẽ có được  xe như ý .

Được biết tại tỉnh lỵ có ông chủ tiệm buôn muốn bán một chiếc Vespa Super . Chiếc xe nầy ông mua cách nay không lâu với giá 50.000 $. Gặp lúc Chính phủ ban hành luật thuế Kiệm ước song hành , tôi tới hỏi mua           thì ông đòi 80.000 $ , khi tôi dành dụm được 80.000$ thì ông nâng lên 100.000 $. Và khi tôi có đủ 100.000 $ mang tới thì ông dứt giá 150.000 $.

Không còn hy vọng , tôi đi Sài Gòn . Gần một tuần tìm kiếm , chọn lựa tôi mới mua được một chiếc Lambretta với giá 108.000 $ , tiền không đủ chú tôi phải cho mượn một thêm ( một năm sau tôi mới trả lại ).   Không mua được xe Vespa cũng hơi buồn một chút xíu , nhưng sau đó lại vui vì ai cũng khen tôi đi xe nầy trông có vẻ trẻ trung hơn . Ở Rạch Giá có 4 người sử dụng xe Lambretta , hầu hết là nhà giáo mà tôi là một .

Ba thầy kia là GS Trường Trung học Nguyễn Trung Trực , mấy thầy đều có tuổi , xe lại hơi cũ . Còn tôi thì trẻ , xe mới hơn, nên phách dữ lắm.             Nhờ có thứ hạng cao nên tôi được chọn về trường Tiểu Học Mỹ Lâm 6 ( cách Rạch giá 6 km ) . Bấy giờ Thủ Tướng Trần văn Hương có Nghị định hoản dịch cho giáo viên phục vụ xã , ấp nông thôn . Vậy là tôi không còn băn khoăn về vấn đề lính tráng nữa .

Tôi được phân công dạy lớp Nhứt . mỗi ngày một buổi . Thời gian còn lại tôi được nhận vào làm tạp vụ cho Trường Trung Học Tư Thục PHÓ ĐIỀU.  Gọi là tạp vụ, chứ tôi chỉ quanh quẩn văn phòng để làm những việc linh tinh như đánh máy hoặc tiếp khách mỗi khi chủ trường đi vắng . Trường nầy cũng khá qui mô , có từ Đệ Thất tới Đệ Nhị , mỗi cấp có hai lớp, sĩ số mỗi lớp không dưới 55 , thậm chí có lớp trên 70 . Văn phòng     chỉ có một Thư ký làm nhiệm vụ thu đơn ,  thu học phí và phát lương cho GS , một giám thị và một anh gác cổng . Ông Hiệu Trưởng thì lại quá già chỉ biết có ký tên mà thôi . Việc điều hành tất cả đều do Ông Chủ Trường quyết định. Được một tuần thì trường đề nghị tôi làm công việc khác , tưởng “ dễ ăn ”nên tôi nhận lời ngay , đó là xếp Thời Dụng Biểu , nhưng khi bắt tay vào thì mới biết công việc nầy rất khó khăn và phức tạp vô cùng. Trường Phó Điều không có thành phần GS chủ lực , muốn thu hút học sinh thì phải mời cho bằng được mấy thầy dạy hay , có tiếng ở Trường Nguyễn Trung Trực để dạy các lớp đệ nhị cấp thành thử thời gian của họ rất là eo hẹp , phải xếp vào đúng vào những giờ trống thì mới dạy được.

Tại Rạch Giá có 4 trường Trung học : TH NguyễnTrungTrực (công lập ) TH Lâm Quang Ky ( bán công ) TH Thanh Bình ( Công Giáo ) và TH Phó Điều. Lúc nầy Thời dụng biểu (TDB) thay đổi liên tục , có khi một tháng tới hai , ba lần . Hể mỗi lần Trường Nguyễn Trung Trực có GS đổi đi, người mới chuyển về hoặc đi lính….thì TDB lại biến động ngay . Trường NguyễnTrungTrực (NTT) xếp trước, lần lượt tới Trường Lâm Quang Ky (LQK) rồi đến Trường Thanh Bình (TB) và Trường tôi phải xếp sau cùng. Và mỗi lần như vậy tôi phải thức trắng đêm mới gọi là tạm xong để việc  học của các em không bị gián đoạn .

Để trả công là tôi được bao ăn, ở . Nếu ăn , ở tại trường thì thôi , còn ra bên ngoài thì chủ trường thanh toán theo yêu cầu . Lần đầu tiên đến một nơi xa lạ lại có điều kiện tốt như vậy nên không it người tỏ ra ganh tị .

Hồi đó Ty Tiểu Học chỉ quản lý các trường tiểu học trong tỉnh , Còn Trung Học thì được điều hành bởi Nha Trung Học . Trường Trung Học Công lập của Tỉnh có nhiệm vụ theo dõi và thanh tra . Ngoài 4 trường ở Thị Xã , mỗi quận có 1 trường , cộng thêm vài trường của các giáo xứ , nên Kiên Giang có gần 20 trường trung học. Thỉnh thoảng Tỉnh có tổ chức họp cho các trường , địa điểm ở Tòa Hành Chánh hay Dinh Tỉnh Trưởng , thành phần là Hiệu Trưởng hay Gíám học, còn tôi là đại diện cho trường TH Phó Điều , khi xe tới cổng thì anh lính gác đưa súng lên chào kính , vào tới sân thì đích thân ông Đại Tá Tỉnh Trưởng đi xuống bậc tam cấp ôm vai tôi và nói “ Chào anh bạn trẻ của tôi” mà tôi trẻ thật , chỉ mới 22 tuổi .

Sau khi nói ba điều , bốn chuyện , ông tỉnh trưởng viện lý do là bận công vụ nên ủy quyền lại cho ông Phó Tỉnh Trưởng hay ông Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân chủ trì cuộc họp , lúc nầy tôi mới nhìn quanh những người có     mặt , ai cũng đáng là thầy của mình cả , nay được ngồi ngang với họ, hỏi sao tôi không “ làm phách ” .

Tới đây tôi xin nói về một người, đó ông chủ trường. Ông tên Phan Văn Lê , người Gò Công. Theo lời ông kể, trước đây má của ông là một thôn nữ rất đẹp, bị một ông thầy giáo “ sở khanh ” dụ dỗ đến mang thai rồi ba đứa con trai lần lượt ra đời mà ông là anh cả Ông thầy giáo sở khanh kia chính là ba ruột của ông . Lúc đứa con thứ ra đời cũng là lúc gia đình phát hiện: Thì ra ba của ông đã có vợ con trước rồi .

Không chấp nhận chuyện con mình làm lẻ mọn , bà ngoại ông buộc hai người phải chia tay , má ông buồn rầu nên sinh bệnh mà chết. Bà ngoại của ông quá thương cháu nên mang tất cả 3 anh em của ông về nuôi , đến năm ông được 12 tuổi thì bà ngoại cũng qui tiên , gánh nặng gia đình đè nặng lên đôi vai bé nhỏ của ông. Ông phải làm thuê ,làm mướn để nuôi em trong khi ông chưa học hết tiểu học , có khi phải lên tận chợ Mỹ Tho để làm công việc dọn hàng thuê . Vì quá thương em nên ông bỏ qua tuổi thanh xuân của mình . Cực khổ, vất vả biết bao nhiêu dể lo cho em , đến khi các em khôn lớn thì có những biến cố dồn dập xảy ra : Người em kế là phi công bị tử nạn trong một lần lái trực thăng đùa giỡn trên sông Cần Thơ. Ông vừa nguôi ngoai được một năm thì người em út bị té chết khi theo xe hàng của một người quen . Qúa đau buồn có khi ông còn thiết sống nữa. Ông lang thang từ Nam ra Trung rồi trở về Nam và ông chọn Kiên Giang là điểm dừng chân cuối cùng . Ông làm tất cả mọi việc miễn có cái ăn để mà sống .

Qua một năm thì ông được nhận vào làm thư ký cho trường trung học tư thục VÕ VĂN . Từ đó ông có tên mới , người thì gọi là ông Ký, người   thì gọi là thầy Ký , cũng có người gọi là thầy Ký Lê. Làm công cho trường Võ Văn được một năm , nhân lúc thầy Trần Thanh Vân ( Hiệu trưởng Trường TH Nguyễn Trung Trực , là đồng hương của ông )nghỉ hưu, hai người phối hợp xin mở Trường Trung Học Tư Thục Phó Điều. Thầy Vân là Hiệu Trưởng , ông là chủ trường .

Nhờ uy tín của thầy Vân mà trường Phó Điều càng ngày càng phát triển ,học sinh càng lúc càng đông , còn trường Võ Văn thì học sinh thưa dần , cuối cùng thì đóng cửa .

Bắt chước mọi người , tôi cũng gọi ông bằng thầy mặc dù ông chưa dạy tôi một ngày nào cả . Trong nhà ông tôi không thấy có bàn thờ mà chỉ thấy có 3 bức ảnh chân dung được phóng to đặt trang trọng trên đầu tủ .Ông cho biết đây là di ảnh của bà Ngoại và hai người em trai của ông. Hàng năm     ông đều làm lễ giỗ cho ba người rất là tươm tất . Mặc dù họ mất đã lâu nhưng mỗi lần giỗ thì ông khóc lóc rất là thảm thiết khiến ai chứng kiến không khỏi mủi lòng . Riêng ba má của ông thì không bao giờ nghe ông nhắc tới .

Có lẽ vì học ít nên ông nói năng không được tế nhị cho lắm, có khi thô lổ là đàng khác mặc dù ông đang sống trong môi trường giáo dục ! Tôi hết sức ngạc nhiên vì ông có những người bạn, nếu so về trình độ thì họ hơn hẳn ông “ một trời một vực ”, vậy mà mỗi khi gặp nhau họ đều gọi mầy tao rất là thân thiết . Trong số đó tôi biết được vài người ( vì là thầy của tôi ) như : thầy Đào Khánh Thọ, trước làm gíam học , rồi hiệu trưởng Trường TH Tống Phước Hiệp, sau về làm Trưởng Khu Học Chánh Cần Thơ; thầy. Võ Ngọc Bỉ ,  dạy Trường Sư Phạm Vĩnh Long. . .

Ông Lê cũng khá đẹp trai , gần 40 tuổi vẫn chưa có vợ, cũng có người nghi ngờ ông bị bệnh “ đồng tính ”. Điều nầy thì tôi đảm bảo 100% là không có vì có một thời gian dài tôi ngủ chung với ông , đôi khi ngủ mê , đầu tôi rớt ra khỏi gối , ông nhẹ nhàng nâng đầu tôi lên đặt lại như cũ , chắt lưỡi mấy tiếng rồi quay lưng ngũ tiếp .

Sự nghi ngờ của mọi người cũng có lý vì thấy ông chỉ thích chơi với con  trai đẹp chứ đâu biết rằng những người nầy đều có gương mặt giống với hai người em trai đã mất của ông . Khi gặp được họ thì ông tìm cách tiếp cận rồi đem về chăm sóc như em ruột vậy . Có lần tôi vui miệng hỏi :“ Tại sao thầy không lấy vợ ?” Ông nói :“ Má tao là một người đàn bà hư , vì mê trai mà bỏ mạng , còn ba tao chẳng khác nào ruồi địt tửa , tạo con ra mà chẳng chút trách nhiệm , bỏ con bơ vơ , lăn lóc giữa chợ đời ,không hề quan tâm . Nếu không có bà ngoại cưu mang , chắc gì anh em tao tồn tại . Bây giờ cưới vợ thì cũng muộn lắm rồi , tao sợ rủi chết sớm mà con tao chưa trưởng thành , rồi nó sẽ hận tao như tao hận ba má tao vậy ”. Có lẽ đây là lý do mà ông không thờ phượng cha mẹ mình (?)

 

Có chút quyền hạn tôi đâm ra cao ngạo, phách lối vô cùng , dần dần mất đi sự khiêm tốn cố hữu , quên bẳng mình chỉ là một anh giáo làng không hơn không kém , ai biết chiều chuộng dẫn đi ăn nhậu thì tôi xếp cho giờ dạy , còn ai tỏ vẻ coi thường vì biết tôi là thầy giáo làng thì đừng hòng . Có một anh vừa tốt nghiệp ĐHSP Cần Thơ tới gặp và nói như ra lệnh : “ Ông Lê kêu anh xếp giờ dạy cho tôi ”. Thế là cơn tự ái tôi nổi lên, tôi nói : “ Ông Lê kêu thì anh bảo ông ấy xếp , chứ tôi không có giờ nào để xếp cả ” . Sau đó không biết được ai mách nước, anh tới năn nỉ nhỏ nhẹ: “ Em mới ra trường , lương tập sự chẳng được bao nhiêu, hàng ngày em phải tranh thủ đi làm phụ  hồ , cực khổ quá . Anh thương mà giúp dùm , em mang ơn anh nhiều lắm ”.

Thấy anh ta xuống nước nhỏ, tự ái tôi cũng được ve vuốt phần nào. Tôi hỏi: “ Vậy chứ anh cần dạy bao nhiêu giờ ”. Anh ta lí nhí :“ Anh cho em mỗi tuần bốn giờ là đủ ”. Không cần suy nghĩ , tôi nói ngay :“ Sáng mai anh tới sẽ có giờ dạy . Đúng như lời hứa , tôi xếp cho anh bốn giờ của hai lớp đệ thất . Anh cám ơn rối rít và cũng từ đó thì không còn tỏ vẻ coi thường tôi nữa ( còn trong lòng anh ta có được vậy hay không ?).

Như đã nói , tôi không thích cái nghề nầy lắm , nhưng vì không có con đường nào để chọn lựa , bất đắc dĩ tôi phải vào. Thuở ấy, từ giáo viên là dành cho người dạy tiểu học , là thầy giáo làng . Còn người dạy trung học thì được gọi bằng từ “ mỹ miều” giáo sư . Cũng có người cùng thi vào trường SP như tôi nhưng không đậu, họ xin vào trường tư dạy giờ , tuy lương bỗng không bằng người tốt nghiệp sư phạm , nhưng vì họ dạy trung học được gọi giáo sư , còn mình là giáo viên, là thầy giáo làng , thấy cũng hơi “ quê quê  ”. Ấy vậy mà ba má tôi hình  như hãnh diện lắm , đi đâu cũng khoe :“ Thằng thầy giáo tui , thằng thầy giáo tui ”.  Có lần tôi phản ứng :“ Làm thầy giáo có gì là vinh dự đâu , ba má khoe làm chi ” . Ba tôi chỉ cười nhẹ rồi nói: “ Cả đời ba má chỉ biết cày sâu cuốc bẫm, lặn hụp bắt từng con cá con tép , nuôi con được như vậy là mừng lắm”. Từ đó tôi không còn mặc cảm về nghề nghiệp của mình nữa . Nhưng bản tính háo danh vẫn còn , tôi cần phải được gọi giáo sư như người ta . Tôi nghĩ có ba cách :

– Một là tiếp tục học để có văn bằng tương ứng cho cấp dạy .( Điều nầy thì khó thực hiện , vì qua hai kỳ thi thì trí nhớ tôi không còn tốt nữa, mỗi tối tôi học thuộc bài, nhưng qua một đêm thì quên tất cả )

– Hai là xin cải ngạch . (Việc nầy cũng rất “nhiêu khê ”, vì có người dạy 5-7 năm mà vẫn chưa cải ngạch được ).

– Ba là xin dạy trường Trung học Tư thục (đây là con đường ngắn nhất). Vậy là tôi quyết định chọn con đường nầy .

Khi tôi hỏi xin thì ông Lê không muốn cho, có lẽ ông không tin tưởng lắm, may sao lúc đó có thầy Hoàng Chiều Nhân ( GS Trường TH Nguyễn Trung Trực ) có mặt nói giúp :“ Mầy cứ để cho thằng Lực nó dạy, tao chịu trách nhiệm hết cho ”. Sau đó thầy Nhân truyền cho tôi một kinh nghiệm :“ Học sinh Đệ thất, Đệ lục có biết gì là dạy hay, dạy dở đâu , yêu cầu em có phong độ một chút , nói chuyện hấp dẫn một chút, qua hai mươi phút đầu mà không bị phản đối thì coi như em thành công rồi ”.

Về phương diện nầy thì tôi an tâm, có một số bạn bè nói là tôi đẹp trai , còn lẻo mép thì ít ai bằng . Một phần có lẽ vì nể thầy Nhân buộc lòng ông Lê phải cho tôi dạy môn Văn của lớp đệ lục.

Tôi còn nhớ cái hôm đầu tiên lên lớp, ông Lê nấp ở chỗ kín theo dõi, thấy 20 phút trôi qua mà lớp vẫn êm ru , thỉnh thoảng có tiếng vỗ tay . Sau đó ông nói với tôi dạy nổi bao nhiêu thì dạy, không giới hạn. Ban đầu tôi chỉ nhận 2 lớp đệ lục, sau vì ham tiền tôi lảnh luôn 2 lớp đệ Thất . Mỗi lớp 6 Giờ một tuần , như vậy bốn lớp là 24 giờ .

Danh vị “ giáo sư ” đạt được rồi nhưng nhìn lại bản thân chẳng có gì thay đổi ngoài việc vất vả hơn . Buổi sáng dạy ở trường tư thục , buổi chiều dạy ở trường tiểu học tổng cộng là 48 giờ/tuần.

(còn nữa)

Lê Tấn Lực

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác