Xem tiếp

" />

Nhúm tóc còn lại của má

Ngày đăng: 11/06/2014 09:45:41 Sáng/ ý kiến phản hồi (0)

Má tôi, người mẹ miền đất giồng. Tôi nói như vậy là vì vùng đất nơi má được sinh ra, lớn lên cho đến khi có chồng con và đến cuối đời vẫn ở đây: “Miền đất giồng”. Gọi là miền đất giồng vì vùng đất ở đây là vùng ven biển. Qua sự bồi đắp của nhiều năm tháng, những con giồng hình cong như lưỡi sóng, cộng với sự lắng đọng của dòng Cửu Long từ vùng sâu chảy về, gặp sức dội của áp lực biển Đông bẻ ngoặt, chia nhánh chằng chịt khắp một vùng rộng mênh mông. Vùng đồng bằng sông Cửu Long được thành hình qua nhiều năm tháng. Một cánh đồng Nam Bộ phì nhiêu định hình từ bên trong, ăn dần ra với những con giồng bao giáp biển. Những loại cây rễ thân như mấm, vẹt, tràm, ráng, bần…giữ phù sa và cát biển làm nên những cù lao, cồn, láng, bãi…dài suốt từ Cà Mau, Trà Cú, Long Toàn, Cầu Ngang…. Vùng đất ngày xưa “Chim kêu, vượn hú” dần dần được di dân từ miền Bắc, Trung, cả những di dân từ Trung Hoa đi qua ngõ biển tấp vào, cộng lại với dân bản địa Cao Miên, quần tựu thành nhóm dân trộn hoà từ lâu đời, thành một vùng cá biệt: Dân Nam Bộ. images Năm học lớp nhì, má tôi vâng lời ông bà ngoại lấy ba tôi lúc tóc còn để kẹp. Má dùng dằng một mình mà không dám cãi ý Cậu.

Má gọi ông ngoại bằng Cậu, trong gia đình ít ai chú ý tới. Thường khi dân miền Nam chánh cống thì gọi ba, má. Chỉ người vùng ngoài bắc mới gọi là cậu. Trong các dịp Thanh Minh về quê ngoại tảo mộ. Tôi thấy bộ bia ông ngoại ghi họ Trịnh. Tôi có thắc mắc và hỏi má: “Má ơi! Má họ Trần, sao mộ bia ông ngoại lại họ Trịnh?”. Má nói má cũng không biết, chỉ làm theo lời trăn trối ông ngoại muốn như vậy. Sau nầy khi học qua lịch sử Việt thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Chúa Trịnh hùng cứ phương Bắc. Chúa Nguyễn thua Chúa Trịnh chạy dần về phương Nam. Tôi đoán chắc ông bà tổ tiên bên ngoại trước đây họ Trịnh ở tận ngoài Bắc, vì sợ Chúa Nguyễn trả thù nên đổi lại họ Trần. Luận cứ nầy rất phù hợp với lịch sử và lời trăn trối của ông ngoại. Tôi đoan chắc là đúng, mặc dù má nói là không biết. Ông ngoại ít nói nhưng cả quyết. Khi được dượng Hai, chồng của dì Hai, chị ruột của má giới thiệu gia đình ông bà nội là người khách trú làm ăn buôn bán ở làng Long Hiệp, Quận Trà Cú, muốn xin cưới má cho người con lớn trong gia đình, ông ngoại nói: “Được!”. Ít tháng sau là đám hỏi và năm sau đó làm đám cưới. Cuộc hôn phối của ba má rất thuận thảo và mau chóng. Ông bà ngoại sống bằng nghề làm rẫy. Miếng đất giồng hơn ba công và thêm mảnh ruộng bốn công nằm kề. Miếng đất rẫy là một vùng đất pha cát màu hơi sậm, nhưng vì cát nhiều nên việc tiêu tưới rất cực nhọc. Miếng ruộng thì chỉ làm được một mùa. Mùa khô nứt nẻ, mùa mưa nước sấp lún tới gối. Đời sống vất vả quanh năm mà chỉ đủ ăn không dư giả. Ông ngoại muốn gả má về chợ buôn bán cho đỡ cực hơn. Trước ngày đám cưới bà ngoại dạy má nấu vài món ăn thường nhật đơn giản như kho cá, nấu canh. Ngoại nói: “Gia đình người Tàu lai người ta không khó đâu nhưng ít nhứt phải biết nấu vài món ăn”. Năm ấy má tròn 18, về sống với ba ở Long Hiệp. Làng nầy cách xa nhà ông bà ngoại một con giồng lớn. Nếu đi tắt xuyên qua những đám rẫy, một cánh đồng thì đến con giồng mang tên xã Mỹ Hoà. Nếu đi đường xe đò thì đánh một vòng hơi xa. Thời đó xe đạp còn hiếm, đi bộ thì quá lâu mặc dù đường ngắn, nên nếu có dịp về nhà ngoại thì má dùng xe đò đi từ Long Hiệp lên Trà Vinh và từ Trà Vinh qua chợ quận Cầu Ngang đến xã Mỹ Hòa. Ngày sinh ra tôi, ông nội không cho má làm gì cả. Ông nội mới có đứa cháu đích tôn nên muốn má chỉ lo giữ tôi cho chu toàn.Tuy nhiên ông nội đu đưa tôi trên tay suốt ngày. Lúc đó má lo cơm nước hoặc các chuyện vặt vảnh trong nhà. Ba tôi gánh vác hết việc mua bán cái tiệm chạp phô nhỏ ở xóm Chùa cách xã Long Hiệp chừng một cây số. Bà nội tôi cũng hiền từ, cho nên cuộc đời làm dâu của má không mấy vất vả. Tôi thường được má ôm vào lòng, ngồi trên chiếc võng đan bằng vỏ cây bố đu đưa. Má đọc như hát bài thơ bằng Pháp ngữ “Voici ma main” mà má học lúc còn nhỏ, đôi lúc là những câu ca dao ngọt ngào trầm bổng: “Má ơi! đừng gả con xa, chim kêu vượn hú biết nhà má đâu” hoặc “Cây khô tưới nước cũng khô, vận nghèo đi tới xứ mô cũng nghèo”.Hồi nhỏ tôi không biết xứ mô là ở đâu. Sau nầy khi đi học tôi mới biết xứ mô là xứ nào theo cách nói của người miền Trung: Đi mô, đi tê…. Ông nội thì hát tiếng Triều Châu và dạy tôi bập bẹ “khìa cai úa chìa pừng” ( lấy đôi đũa ăn cơm)… Má thường gội đầu bằng nước tro. Má dùng tro nhà bếp, bỏ vào thau nước ngâm một hồi lâu, chắt nước trong vào cái tô to. Má xõa búi tóc, khom lưng cuối gập người về phía trước cho tóc rủ hết xuống, một tay cầm cái tô nước trong màu hơi xẫm đổ từ từ vào đỉnh đầu. Má dùng tay còn lại vò từ đỉnh đầu xuống dòng tóc. Sau khi đổ hết tô nước, má dùng cả hai tay vò chùm tóc rỏ nước. Cuối cùng má vói tay cầm cái cán chiếc gáo múc nước, múc từng gáo xối từ đỉnh đầu để rửa sạch nước tro gội. Sau nhiều lần xoa rửa và vuốt nước, má dùng cái khăn rằn tiếp tục vuốt cho dòng tóc tạm ráo. Sau cùng má đứng thẳng người lên, hất mớ tóc ra phía sau. Nước còn đọng trong tóc làm ướt vã lưng áo. Nắng buổi trưa hâm hấp nóng. Má bước vào mái hiên ngồi trên chiếc ghế đẩu. Má tiếp tục nghiêng đầu hong nắng cho khô tóc và dùng chiếc lược làm bằng sừng trâu chải cho tóc suông. Thường khi như vậy tóc bị tẻ hoặc bị đứt ra dính vào kẽ lược. Má dùng hai ngón tay kẹp vuốt ra mớ tóc rời và quấn lại từng chụm nhỏ. Trong căn nhà vách lá tôi thường thấy vài nơi có vài chụm tóc được má nhét vào kẽ vách. Đôi vì bận rộn má quấn vội mớ tóc, trùm chiếc khăn rằn quấn túm lại và tất bật với công việc nhà. Sau nầy có khi má dùng trái bồ kết nấu trong nồi nước cho sôi, để nguội, gạn nước trong để gội đầu. Suốt một thời tuổi nhỏ gần má, tôi quen mùi với mái tóc má như một cái gì thân thiết lắm. Sau nầy gia đình khá giả và sản phẩm xà bông gội được phổ biến. Má không còn gội đầu với nước tro hoặc trái bồ kết thường như trước đây nhưng đôi lúc má lại gội đầu theo lối cũ. Má nói: “Gội bằng nước tro, hoặc trái bồ kết sạch hơn và không bị ngứa”. Cho dù thế nào, tôi vẫn thoảng nhớ mùi hương từ mái tóc má mỗi lần có dịp ngồi gần má. Năm tháng dài trôi qua, từng đứa con ra đời.Than lửa hong từng đứa. Mái tóc má thưa dần qua chín đứa con. Má cùng ba cơ cực trong cửa tiệm bán vải. Mái tóc má thưa dần. Má dùng mớ tóc mượn để búi thêm vào tóc. Anh em chúng tôi lớn dần. Cho tới đứa em gái út của tôi vào trường học thì mớ tóc má tôi bạc đi nhiều cọng. Chiến tranh càng lúc càng ác liệt. Tôi đến tuổi vào lính, kế đến hai đứa em kế tôi cũng bị đi quân dịch, các em còn lại đứa vào trung học, đứa vào đại học. Má cùng ba tiếp tục những ngày tháng với công việc mua bán. Trong những ngày đi học tập, khi gia đình có cơ hội đến thăm nuôi. Tôi nhìn hai đứa con vô tội đang trong tuổi ngây dại, nhìn vợ tôi buồn rầu, nhìn mái tóc má bạc thưa, nhìn đôi mắt quầng thâm mờ mây vì âu lo của má. Tôi nuốt dòng lệ chảy, rủ lòng tê dại đớn đau. Sau ngày về sum hợp gia đình. Ba má thúc dục tôi và cả mấy đứa em tôi phải tìm đường phương cách sống. Với một mớ vàng còn lại, ba má lo cho các em tôi lần lượt đi nước ngoài. Chúng gặp nhau ở đảo. Các em tôi gồm đứa em gái thứ năm, vợ chồng thằng thứ sáu, thằng em thứ tám và thằng em thứ chín đều được sang Úc. Ba tôi lo cho vợ con tôi đi mấy lần mà không có kết quả. Sau cùng tôi và gia đình được giấy xuất cảnh. Nỗi mừng vui khôn tả vừa đến, theo sau là tin má chết trong một tai nạn ở quê. Tôi khóc thảm thiết vì sự ra đi bất ngờ của má. Lúc đó ba má và đứa em gái út thứ mười cũng được giấy xuất cảnh sang Úc đoàn tụ với mấy đứa em. Sau khi chôn cất má, ba cùng đứa con gái út đáp phi cơ sang Úc. Ba định cư ở Úc được gần một năm. Vào tháng 2 sau Tết, mấy đứa em gọi điện thoại cho tôi hay ba bị bịnh. Ba mất sau cuộc giải phẫu gan hơn hai tuần sau đó. Tôi không đi sang Úc để nhìn ba lần cuối vì tôi mới vào Mỹ. Hai đám tang của ba má đều vắng mặt tôi. Điều đó làm tôi xót xa và bị dằn vặt mãi khi nhớ đến ba má. Hơn mười năm tôi mới có dịp trở lại Việt Nam. Nhìn quanh quất căn nhà thân yêu, tôi mơ màng hình bóng ba má và các em tôi như còn thoảng đâu đây với khung giường, chiếc bàn, chiếc ghế…Tôi lần đi nhìn từng nơi. Tôi sờ từng chỗ. Căn nhà vắng lặng! Tôi ngồi khóc một mình. Con cắc kè ở ở đâu đó trong một góc nhà kêu “Cắc kè” ba tiếng. Tôi mơ hồ kêu: “Ba má ơi!” Chiếc tủ quần áo đặt kế khung giường ngủ của ba má ngày nào. Tôi mở cánh cửa nhìn vào. Một số quần áo cũ còn đó, mùi hương cũ phảng phất thoát ra. Tôi nhắm mắt mơ màng da diết nhớ thương những ngày tháng đã qua! Kéo một ngăn kéo nhỏ trong tủ áo, tôi bắt gặp một gói vải mà lớp vải bao đã vàng ố. Đây là chiếc khăn tay của má gói một số giấy tờ căn cước, vài mãnh giấy ghi kinh Phật. Giữa hai thẻ qui y của ba má có lẫn một nhúm tóc bạc. Tôi nhớ có lần má nói với tôi là sẽ xuống tóc xuất gia. Tôi xin má: “Má ơi! Con biết tính má rất lo lắng cho gia đình, má chưa dứt được mọi chuyện đời, xin má đừng xuất gia vội!” Có lẽ má nghĩ lại và bỏ ý định xuống tóc xuất gia. Má để nhúm tóc nầy như một lời nguyền xuống tóc? Má tụng niệm kinh kệ hằng ngày, trường chay từ khi bà ngoại mất. Lúc đó má chỉ mới chừng hơn 45 tuổi. Má sẵn sàng giúp đỡ, phát chẩn cho người nghèo. Mỗi mùa Lễ Vu Lan má mua từng bao bố gạo để trước nhà phát cho các gia đình nghèo khó. Ở chùa thì má chi trả cho mọi chi phí chay đàn cho bá tánh thập phương đến chùa. Má sống rất đơn giản. Mớ quần áo của má trong chiếc giỏ mà đi đâu má cũng mang theo cứ lấy dần ra cho những người thiếu thốn. Ngày má mất, ba soạn cái giỏ đồ của má ra chỉ còn lại một bộ đồ duy nhất. Ba lắc đầu: “Má con có nhiều đồ, bả cho hết…bây giờ chỉ còn có một bộ!”. Trước đây tôi cũng không để ý. Mỗi lần má tắm xong thay đồ sạch thì má đem giặt ngay bộ đồ dơ. Bây giờ nghe ba nói tôi mới vỡ lẽ! Tôi bốc ra những sợi tóc bạc ngày xưa của má để lên bàn tay. Tôi đưa bàn tay với nhúm tóc lên mũi. Tôi nhắm nghiền đôi mắt. Mùi hương thoảng nhẹ mơ hồ trong ảo giác. Tôi khóc òa lên như một đứa trẻ trong căn nhà cũ quạnh vắng buồn hiu!

Huỳnh Tâm Hoài

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Các bài viết mới khác