Xem tiếp

" />

Hàn Vĩnh Nguyên bạn tôi

Ngày đăng: 13/07/2013 06:56:30 Chiều/ ý kiến phản hồi (2)

Có hai bữa cơm mà tôi nhớ đến suốt đời. Dẫu sau này tôi đã có những bữa ăn sang gấp nhiều lần hai bữa cơm ấy. (Chúng tôi không thể có tiền để đãi nhau những bữa tiệc triệu này triệu khác nhưng cũng đã có những bàn tiệc đến vài trăm ngàn). Nhưng không thể có bữa tiệc nào ngon bằng hai bữa cơm ấy.

                                                                             Lương Minh- Tác giả- anh chị Hàn vĩnh Nguyên

 

Đó là những ngày gian khó của cả nước. Một lần vào tháng sáu âm lịch năm 1988, Nguyên Tùng rủ bọn chúng tôi gồm: Hàn Vĩnh Nguyên, Dương Sinh, Lương Minh, Nguyễn Bạch Dương và hình như cả Ngọc Anh nữa về quê anh – xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, dự hội lăng. Khởi hành từ thị xã vào buổi trưa, chiều vàng vàng chúng tôi đến xóm Trại… Chiều tối hôm ấy chị Hai cho chúng tôi ăn cơm gạo cũ mua ở chợ với cá rô phi cỏ nuôi ở ruộng muối vào mùa mưa kho mặn. Chỉ có vậy nhưng với tôi đó là một trong hai bữa cơm không thể quên. (Về sau chị Hai nói với Nguyên Tùng: Nhà nghèo, cơm không có gì đáng, chị hơi áy náy nhưng thấy các em ăn ngon miệng quá chị cũng mừng). Bữa khác là tại nhà Hàn Vĩnh Nguyên. Hôm ấy Phân hội Văn học họp đến quá trưa mới xong, ai nấy đều đói cả, Hàn Vĩnh Nguyên rủ mấy đứa tôi: Dương Sinh, Mai Văn Ro, Nguyên Tùng và cả Trương Chí Lực nữa về nhà anh ăn cơm, nhưng giao ước: “Đến nhà là phải tự nấu lấy mà ăn, có gì ăn nấy vì vợ con đi vắng cả…”. Rau cải trời, đọt nhãn lồng… tự hái lấy ngoài vườn, chấm với nước tương và nếu tôi nhớ không nhầm thì còn có thêm hai con khô lù đù chiên mặn chát, có lẽ còn lại từ bữa sáng của vợ con anh. Tất cả chỉ có vậy, nhưng với tôi đó vẫn là bữa cơm không quên. Tôi không phủ nhận những bữa cơm ấy ngon một phần do chúng tôi đói, nhưng quan trọng nhất đó là những bữa nặng tình, tình chị em, tình bè bạn thấm đượm trong từng hạt cơm, lá rau, con cá… Đó là nói tới bữa cơm không quên, còn thường thì tôi vẫn ăn ở nhà anh luôn (nhất là thời kỳ tôi chưa lấy vợ). Mà không chỉ có tôi, nhiều anh em khác đi đâu tạt qua đều có thể ghé nhà anh. Tiện bữa thì ăn cơm, không thì một chén cơm nguội, hay bất cứ thứ gì có thể ăn được trong nhà…
Vui tính, xởi lởi, hào phóng là đặc tính chung của cả vợ chồng anh, nên nhà anh lúc nào cũng đông khách. Nó là nơi tụ hội, là trạm liên lạc của nhóm bạn văn nghệ chúng tôi. Còn nhớ vào khoảng cuối những năm tám mươi đầu những năm chín mươi của thế kỷ trước (đầu thời kỳ mở cửa) nhóm bạn chúng tôi lúc đó có chừng vài mươi đứa thường tổ chức những đêm “Xuân” tại nhà anh. Những cuộc chơi lớn như thế thường chúng tôi góp lại để chơi, nhưng anh là chủ nhà bao giờ cũng chịu phần nặng nhất. Vui lắm, có rượu chè, có bánh trái, có lửa trại, chúng tôi đọc thơ, đọc văn, đọc những sáng tác mới của mình, đọc những tác phẩm gây dư luận trên văn đàn trong và ngoài nước… Được mấy năm thấy tình hình có vẻ không ổn cho anh và cho cả chúng tôi nữa nên thôi. Nhưng không mấy cái Tết chúng tôi không ăn Tết ở nhà anh, không tổ chức lớn được thì tổ chức nhỏ và bao giờ cũng vui…
Bạn bè (nhất là lớp trẻ) rất thương anh, quý anh không chỉ vì anh như một người anh lớn của họ, luôn lo lắng, chăm sóc tận tình và nâng niu từng bước đi của họ trong văn chương mà còn bởi anh là người hay bị “tai nạn” nghề nghiệp: Tai nạn về những tác phẩm của mình, tai nạn vì đã cho in những truyện ngắn “có vấn đề” của những bạn văn khác khi ở vị trí là Trưởng ban biên tập tờ Văn nghệ Bến Tre. Có lẽ trong các hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu anh là người gặp tai nạn nghề nghiệp nhiều nhất. Nhưng nhiều lúc nghĩ về anh, về cá tính của anh, tôi lại tự rút ra kết luận: Người như anh mà cuộc đời không gặp nhiều trắc trở bởi cái nghiệp của mình mới là sự lạ!
Nghĩ về anh là nghĩ về một thằng cha mê viết lách từ thuở mười bảy mười tám tuổi (lúc anh còn là chiến sĩ ngoài chiến trận). Một thằng cha mới hơn hai mươi tuổi đã dám lên tiếng bày tỏ sự không bằng lòng của mình về việc cấp trên phân công tác không phù hợp với sở trường.
Lần đó, cầm bức điện của tổ chức điều động cán bộ, anh từ báo Chiến Thắng (thuộc Ban Tuyên huấn Bến Tre) về Ban Tuyên huấn Khu Trung Nam Bộ nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Thường trực Ban Tuyên huấn Khu lại là người kiêm chức trưởng Tiểu ban Thông tấn nhất nhất đòi anh phải về công tác tại tiểu ban này. Không chấp nhận và cũng không kềm chế được, anh đã thẳng tuột đề nghị: “Hoặc các chú cho cháu tiếp tục làm báo, làm văn nghệ, hoặc cho cháu quay về Bến Tre”. Hồi ấy, quen thông lệ “Đảng phân công đâu, tôi chấp hành đó”, một phản ứng như thế được xem là quá quắt. Vụ việc, lập tức bị nóng lên, xôn xao mất gần hai tháng, rồi xem đi xét lại, “các chú” cũng cho anh về với Tiểu ban Văn nghệ. Sau này có người hỏi sao anh liều vậy, anh chỉ cười: “Đơn giản, vì hợp sở thích, đúng sở trường, tôi sẽ làm việc, cống hiến cho Đảng nhiều hơn. Còn quay về Bến Tre, ai cũng biết đó là con đường máu – con đường mà lượt đi mất 31 ngày, có lần tôi đã thầm nói với mẹ tôi: “Mẹ ơi, ươm hột khác đi, hột này coi như lép!”. Cho nên, ngoài việc bị quy “bất tuân”, chẳng còn lý do gì để người ta dám bảo tôi trở về Bến Tre với con đường máu là nhát gan!”. Tính khí đã như vậy thì làm sao cuộc đời anh có thể suôn sẻ được.
Các tác phẩm của anh thường được “săm soi” rất kỹ, nhiều khi chỉ vì một chút gợn lên nào đó, thậm chí có khi chẳng gợn lên chút nào cũng bị soi. Như năm 2000, khi tập “Ba Tri thời lửa đạn chưa xa” (công trình liên kết giữa huyện ủy Ba Tri và Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu) ra đời, truyện ngắn “Chiến tranh” của anh lại bị “soi” (tuy lần này có phần nhẹ nhàng hơn). Người ta soi đúng vào cái kết của truyện, là phần mà anh rất tâm đắc và với những người đọc như chúng tôi thì đó là phần giá trị nhất của truyện. Khi tôi hỏi anh về chuyện ấy, anh cười như chẳng có gì:
– Lại vẫn thế thôi.
Cũng lần ấy anh tâm sự với tôi về những truyện ngắn của mình. Những truyện mà có lúc người ta làm ồn ào lên một cách không đáng có, như “Chợ người”, “Gương không soi”, “Con chim chìa vôi, chiếc lồng bỏ trống và thằng ăn hại”, “Cửa khép”… : “Thực ra chúng đều xuất phát từ những chi tiết, tình tiết, những hoàn cảnh cụ thể trong cuộc sống bình thường. Ví dụ, những năm đó tôi rất bức xúc về các mối quan hệ giữa thầy – trò, thầy giáo – phụ huynh… Tôi cảm thấy nhân phẩm người thầy giáo bị hạ thấp rất nhiều so với địa vị mà đáng ra họ phải được nhìn nhận. Lý do chính là hoàn cảnh kinh tế xã hội lúc bấy giờ. Một lần thay vợ đi chợ, gặp người bán hàng thối thừa tiền, tôi đem trả lại. Người bán hàng tỏ vẻ ngạc nhiên, bà bạn hàng bên cạnh cũng ồ lên: “Có vụ này nữa sao?…”. Họ coi đó như là chuyện lạ. Từ đó tôi liên hệ với thân phận người thầy giáo và dựng nên truyện ngắn “Chợ người”… Truyện “Gương không soi” lại là một sự tình cờ khác: Chiếc gương chung của cả gia đình đặt trong buồng phải treo ở vị trí khá thấp để cho mấy đứa con tôi (lúc đó còn nhỏ) cùng soi. Khi người lớn muốn soi vào thì phải hơi rùn người, rụt cổ đi một chút khiến cho hình ảnh trong gương bị biến dạng, trông khá buồn cười. Một lần tôi soi vào, cảm thấy khó chịu khi gương mặt mình trong gương bị biến dạng kỳ cục. Lại một sự tình cờ nữa là khi cầm cái nón (mũ) định đội lên đầu tôi bỗng thấy một bãi phân thằn lằn ngay trên đỉnh nón. Cái cảm giác khó chịu đó ám ảnh ray rứt tôi suốt ngày hôm ấy cho đến khi một tứ truyện bật ra… Tất cả chỉ có thế thôi…”.
Tất cả chỉ có thế thôi! Nhưng người ta không nghĩ thế. Ông này vơ vào, ông kia cũng vơ vào, nói Hàn Vĩnh Nguyên viết về họ, chế nhạo, mỉa mai họ. Tất nhiên không ông nào dám công khai nói thẳng ra điều đó. Sự việc cũng ồn ào lên một dạo rồi lại thôi. Theo tôi hai truyện ngắn mà anh lấy làm ví dụ nói trên chỉ thuộc loại trung bình của Hàn Vĩnh Nguyên. Thậm chí xét về mặt nghệ thuật (cũng theo ý của riêng tôi) hai truyện đó còn hơi yếu nữa là khác. Nói rằng những truyện ngắn của anh không có ẩn ý thì không đúng. Tác phẩm luôn là nơi gửi gắm tâm sự của nhà văn (nhưng tác phẩm có chuyển tải nổi những gửi gắm ấy không lại là chuyện khác). Ở đây, ẩn ý của anh không nhằm vào một cá nhân nào. Những điều anh muốn gửi gắm vào tác phẩm lớn hơn nhiều. Đó là sự cảnh báo một thực trạng băng hoại đạo đức của xã hội, nạn chạy chức chạy quyền, sự coi khinh tầng lớp trí thức của một thời… Người ta làm ồn lên một lúc nhưng không ai đứng ra công khai nhận mình là nhân vật của truyện nên rồi cũng thôi, yên cả. Có điều tôi cứ nghĩ mấy truyện ngắn đó mà người viết không phải là Hàn Vĩnh Nguyên thì chắc sẽ không có sự ồn lên…
. Có một dạo, hình như quá mệt mỏi về văn chương, anh có ý định làm “giàu”. Sau nhiều năm chắt chiu, vợ chồng anh mua được một ít đất, khắc nghiệt thay, gặp phải đất bạc màu… Anh quyết tâm cải tạo nó bằng cách đào lên, băm nhỏ lớp đất mặt rồi dùng hàng trăm xe tro trấu, mùn dừa trộn vào, san lấp lại. Độ bằng của khu vườn nhà anh dùng thước cân bằng của thợ hồ cũng không phát hiện ra độ chênh, nghĩa là bằng lắm, đẹp lắm. Nhưng có lẽ trời không cho anh làm “giàu”. Đất cải tạo đến mức như thế nhưng không hiểu sao trồng nhãn chỉ được một hai mùa đầu trái sai còn sau đó cây trở nên còi cọc, trái thưa thớt, thun nhỏ lại. Trồng bưởi da xanh (nhãn và bưởi da xanh là những loại trái cây thời thượng ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Bến Tre nói riêng lúc ấy) trái chỉ lớn hơn trái cam chút ít. Về sau anh phát hiện dòng kênh chảy qua miếng đất nhà mà anh dùng nước để tưới cây trái trong vườn, ngày càng trở nên ô nhiễm nặng nề bởi nước thải độc hại của một số cơ sở sản xuất đổ ra. Đó chính là nguyên nhân thất bại của anh, anh đã không lường trước được việc này. Bạn bè trêu anh: “Số ông không giàu được đâu. Đã trót làm văn nghệ thì theo văn nghệ cho rồi!…”. Anh cười hồn hậu: “Có lẽ thế thật!…” và…
Tôi thường nói vui với bạn bè, một đời viết văn của Hàn Vĩnh Nguyên, tôi chỉ chấm được câu: “… Tôi bây giờ cũng giống như con dao cùn. Chẳng chặt đứt được thứ gì, nhưng cũng chẳng thứ gì chặt cho tôi đứt nữa…”(Về Thới Thuận). Đó chỉ là cách nói quá lên của tôi để tán thưởng câu văn đã bộc lộ hết sự nhọc nhằn và mệt mỏi của cả thế hệ chúng tôi. 

                     DƯƠNG SINH

Có 2 bình luận về Hàn Vĩnh Nguyên bạn tôi

  1. Ngọc Vinh nói:

    Xin nói thêm, nhân ngày Văn hóa Bến Tre (cũng nhằm kỷ niệm ngày mất của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu) 1 tháng 7, nhà văn Hàn Vĩnh Nguyên (nhân vật trong bài viết) được UBND tỉnh Bến Tre trao giải thưởng Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu lần 2 đợt I. Tất cả anh em phân hội văn học Bến Tre đều chúc mừng anh! Còn tác giả bầi viết trên  – Dương Sinh –  chính là thầy Dương Văn Kỳ, nguyên là giảng viên môn sinh học trường CĐSP Bến Tre.

  2. Phong Tâm nói:

    Chú (em) hai Phước :  Nguyễn Phước – Hàn Vĩnh Ngyên… đó là những tên thường dùng cho nghề nghiệp làm báo, viết văn, tên thật là Nguyễn Chân Thành. Tôi tạm hiểu như vậy, điều tôi muốn nói, nhà văn Dương Sinh đã nói thay rồi.Thật ra đối với tôi, ngoài Dương Sinh còn nhiều người bạn nữa ăn cơm nhà chú hai Phước không biết bao lần, từ lúc Nguyễn Phước gia đình còn rất nghèo cho đến ngày nay, riêng tôi thì không nhớ được bao nhiêu lần, chỉ nhớ và thấm sâu trong lòng tôi, Hàn Vĩnh Nguyên là nhà văn có cuộc sống quá giản dị,đối với bè bạn quá chân thân thành, y như tên cúng cơm của mình vậy! Đọc bài viết của Dương Sinh nói về Hàn Vĩnh Nguyên, tôi nghĩ chính Dương Sinh không dùng lời lẽ cầu kỳ mà tự đày lòng anh mới nói được chiều sâu của tấm lòng Nguyễn Phước xử sự với anh em. Chúc mừng nhà văn Hàn Vĩnh Nguyên nhận được giả thưởng Văn Học. Cám ơn nhà văn Dương Sinh có bài viết chân tình nói về những kỷ niệm với Nguyễn Phước thay cho bạn bè.  ( Phong Tâm )

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Các bài viết mới khác