Ở ĐÓ SÔNG CÓ MỘT MÙA BUỒN (Kỳ 1)

Ngày đăng: 26/05/2013 07:16:31 Sáng/ ý kiến phản hồi (0)

     Tôi ngồi nhâm nhi với anh bạn viết văn ở quán cóc bên bờ sông Cổ Chiên vào một buổi chiều gần mưa. Tôi vẩn vơ nghĩ chuyện… trên trời, còn anh thì trầm ngâm, chiêm nghiệm.

     – Tao định viết một bài về sông Hàm Luông nhưng nghĩ hoài không  biết nó đẹp chỗ nào?

     Câu tự vấn của anh bạn làm tôi giật mình. Ờ, sao mình cứ mải miết đi tìm cái đẹp ở nơi xa lơ xa lắc, mơ màng với dòng sông Hương “của” Hoàng Phủ Ngọc Tường, trăn trở với sông Đuống “của” Hoàng Cầm, đau đáu về sông Thạch Hãn, sông Thao, sông Đà… xa hơn tận trời đông trời tây là sông Đông , sông Vônga hay ngút ngàn sông Amazôn huyền thoại mà quên rằng mình cũng có một dòng sông! Anh bạn lại thúc giục.

     – Nói đi, mầy thấy những dòng sông ở miền Tây Nam bộ này có gì đẹp?

  

   Đừng buộc tôi khen khi tôi chưa cảm nhận đầy đủ về nó, cụ thể ở đây là một dòng sông: sông Cổ Chiên. Sông Cổ Chiên có cùng một người “mẹ” như tám dòng sông khác ở miền Tây, đó là sông Mê Kông. Bắt nguồn từ Tây Tạng Trung Quốc cao bốn ngàn tám trăm mét, sông Mê Kông vượt qua đèo cao vực thẳm ghé Miến Điện, lần qua Lào, quẹo vào Thái Lan, luồn vào Cam-pu-chia, xuống Việt Nam rồi hướng thẳng ra biển Đông để kết thúc cuộc hành trình phiêu bạt. Ngang việt Nam sông Mê Kông chia thành chín nhánh trong đó có dòng Cổ Chiên của tôi mà nhiều lần  tôi đã vô tình phụ bạc. Sông Cổ Chiên không mềm mại đa tình như sông Hương, không dữ dội như sông Đà, sông Đuống, không có nhiều chiến tích như sông Bạch Đằng, sông Nhật tảo… sông Cổ Chiên u nần, gốc cạnh, gồ ghề, thô kệch như em gái quê, như bà mẹ nghèo. Ở đó, mỗi năm sông có môt mùa nước trong và môt mùa nước đục, một mùa mưa và một mùa nắng. Và ở đó, sông còn có một mùa buồn!

     Cổ Chiên, “cổ” là tiếng trống hay “cổ” là xưa tôi không biết, tôi không quan tâm vì đó là công việc của các nhà sử học, ngôn ngữ học, tôi chỉ biết là ở dòng sông ấy có kỷ niệm tuổi thơ tôi, có niềm vui nỗi buồn, có những biến cố thăng trầm mà sông đã từng lặng lẽ chứng kiến, sẻ chia. Nếu như những lưu dân người Việt ngày xưa vượt biển cả mênh mông xuống phương Nam sinh cơ lập nghiệp từng phiêu bồng chằng chịt trên các dòng sông miền Tây này để cuối cùng dừng chân ở mảnh đất nào đó phá rừng làm rẫy, tạo dựng cơ nghiệp thì nay, cái “máu” ngang tàng hồ hải ấy vẫn còn “di truyền” ít nhiều ở những người khách thương hồ. Khách thương hồ vẫn ngày ngày “trôi” trên dòng sông Cổ Chiên để kiếm sống. Trên sông có kẻ sa cơ lỡ vận, có người bươn chải mưu sinh, có cả những tên giang hồ một  thời ngang dọc bây giờ chạy trốn pháp luật, mượn cớ sinh nhai để nhờ dòng sông che chở. Nhưng nhiều nhất vẫn là những người thích lang bạt kỳ hồ, thích lãng du, thích tự do phong trần hơn là kiếm cơm vốn chỉ là khái niệm. Anh Tấn, người có nghề vá nồi niêu soong chảo, mỗi năm “trôi” ngang sông Cổ Chiên một lần và ghé tôi ít ngày. Kiếm sống được không? Được! Chữ “được” nghe nhẹ hều nhưng không có hơi hướm của sự chịu đựng bởi đằng sau không có tiếng thở dài. Vợ anh sao rồi? Sắp mãn hạn tù. Thì cũng phải nhảy xuống sông kiếm sống với tao chứ không đất, không vườn, ngôi nhà cũ cất nhờ trên đất hàng xóm đã “lọt” xuống sông hồi mùa lũ năm rồi. Hai vợ chồng anh ở huyện Hồng Ngự, Đồng tháp, không con. Mỗi tháng ghé lại thăm nhà một lần vài ngày rồi tiếp tục xuống xuồng len lách trên các dòng sông kiếm sống. Và, đột nhiên chị quyết định ở nhà. Ở nhà để “làm ăn” gì đó, anh không biết. Ban đầu, mỗi lần về thấy vợ xúng xính với bộ đồ mới, đôi giày mới, và tiền, và vàng… anh cũng có nghi ngờ nhưng không muốn  hỏi. Đùng một cái anh nghe tin chị bị bắt về tội bán số đề. Thế là hết, quần là áo lụa vụt bay vụt biến chỉ còn lại cái án tù ba năm cho chị và nỗi chán chường cho anh. Chừng nào anh mới định “dừng bước giang hồ”? Khùng, giang hồ thì làm gì có nơi có chốn mà dừng? Ờ, thì anh cứ đi đi, có khi vậy mà hay, có khi vậy mà ít phải vướng bận thế thái nhân tình như dòng nước, như giề lục bình, như một cánh chim trời…

     – Chạy đâu  cho thoát, mậy? những thứ mầy ví với tao có lúc cũng bị phong ba bão táp, sóng vùi gió dập… Nhưng, đã là “nghiệp chướng” thì có than vãn cũng không thay đổi được phận mình. Thì thôi, giang hồ ta cứ… (Giang hồ ta cứ giang hồ mãi. Nghe tiếng cơm sôi bỗng nhớ nhà)

     Ở đó, (nghĩa là ở trên sông) tôi có một tuổi thơ nhọc nhằn kiếm sống. Mùa hến thì quần nát đáy sông để kiếm tiền ăn học. Mùa ốc gạo thì lặn mò ốc gạo, mùa cá cơm thì đi kéo lưới cá cơm… Mỗi mùa cho một cách mưu sinh, mỗi mùa cho một vui buồn lẫn lộn. Nghĩ lại, sông đã cho tôi quá nhiều nhưng biết làm sao để đền ơn đáp nghĩa? Sông đã cho tôi những buổi đi giở chà tôm, những ngày tập tễnh buông câu, những đêm cào hến một mình lạnh lẽo, đơn độc để hiểu rằng dẫu sao mình vẫn còn có dòng sông để tồn tại! Nếu mùa câu tôm trên sông Cổ Chiên chỉ còn là hoài niệm, là ký ức đẹp thì mùa hến, mùa ốc gạo vẫn còn nguyên. Và nếu hến còn được… “tự do” thì ốc gạo bây giờ là hợp tác xã. Tôi không dự đoán coi mô hình này tồn tại và phát triển tới đâu vì Nhà nước “qui hoạch” thì chắc gì sai? Tôi chỉ tiếc là ngày ngày mình không còn được đi lặn mò ốc gạo. Một chiếc xuồng, ba bốn thằng bạn và ít cây sào, chống ra giữa sông cắm sào làm trụ, lấy hơi, lặn xuống… hốt! Ốc gạo ngọt, giòn, béo, luộc chấm với nước mắm sả ớt, mời… Thiên nhiên đãy anh của ngon thì dại gì anh không thử nếm một lần cho biết! Có điều, bây giờ là hợp tác xã, anh phải mua, cả tôi nữa cũng phải mua nếu không phải là xã viên. Còn muốn ăn mà không tốn tiền thì chỉ có cách là tôi đi mò “trộm” ốc gạo trên sông mình! Hiện nay họ cào ốc gạo rất… công nghiệp, những cái bàn cào sắt bấu xuống lòng sông, lôi tất cả những thứ mà nó vướng vào (có ốc gạo), kéo lên, họ đãi những con ốc nhỏ thảy lại sông cho nó… lớn!( Chuyện này thì tôi nghi ngờ. Anh cào anh đãi cho nó bầm dập rồi thảy lại sông thì… nó lớn được mới lạ!)

     Anh bạn nhắc tôi là để ly rượu gần muời lăm phút rồi và chưa ăn con ốc gạo nào.Thì uống, nhưng anh đừng thúc giục tôi khen dòng sông mình đẹp, nhất là đừng hỏi tôi nó đẹp “chỗ” nào. Tôi còn đang nặng lòng với “con sông quê hương” của Tế Hanh, buồn bã với dòng sông Trẹm… Sông tôi không đẹp, thậm chí xấu. Mùa lũ, màu phù sa đỏ quạch, cái màu gợi buồn cho những kẻ tha phương. Mùa lũ, nó còn “rứt” từng mảnh đất ở phía đầu cồn “liệng” xuống sông không thương tiếc. Cũng không thể trách, thiên nhiên phải lấy lại những gì mình ban tặng mà con người không biết nâng niu, gìn giữ. Một cái cồn mỏng manh giữa sông, phù sa bồi lắng hàng trăm năm mới thành hình hài. Sông vốn sâu, vậy mà các cứ đào bới dòng sông hết ngày tới đêm để khai thác cát hỏi sao sông không “lấy” lại đất trên cồn để bù đắp cho mình? Vì vậy mà, nếu ngày trước bọn trẻ chúng tôi chỉ cần đốn vài cây chuối, nhảy ùm xuống sông, bám chuối lội qua bên kia bờ để ăn trộm… bần, thì nay, mấy đứa trẻ cứ căng mắt thèm thuồng những trái bần chín ở bên cồn mà chảy nước vãi chứ đố chúng nó dám phiêu lưu!

   

 Nhắc đến bần là nhắc tới những kỷ niệm khác của tôi trên sông: Vợt dơi. Vợt dơi không tốn nhiều “đồ nghề”, không cần nhiều người, chỉ cần hai cái vợt bằng nhợ, bốn cây tầm vông để căng vợt, ba thằng “lành nghề”, một cọng kẽm(để xỏ dơi) là xong, xuống xuồng. Điều đặc biệt là vợt dơi phải lựa đêm tối trời, lúc chuyển mưa càng tốt vì dơi rất nhạy ánh sáng , kể cả ánh sánh của sao trời. Chúng tôi lòn lách dưới những tán bần khi đến “luồng”* thì im lặng ngồi rình. Hai thằng hai cây vợt căng lên, thằng còn lại kẹp ngón tay cái và ngón tay trỏ đút vào miệng giả làm tiếng dơi kêu. Để giả giống tiếng dơi kêu thì người thể hiện nó phải có một quá trình rèn luỵện công phu vì chẳng những giả cho giống mà phải thiệt giống, tiếng dơi phải dồn dập như kêu cứu, thảm thiết như sắp chết tới nơi để đàn dơi “tưởng” đồng loại mình đang mắc nạn mà bay đến… cứu! Hai người còn lại chỉ mỗi việc là nhắm hướng dơi bay vào để chụp. Dơi dễ chế biến, dễ ăn như dơi khìa, dơi chiên, dơi nướng…nhưng hấp dẫn nhất là dơi luộc. Đây là món khá khó ăn với những ai nhát miệng vì dơi luộc phải để nguyên con, luộc xong mới lột da, con dơi trắng nõn, thơm lừng, ngọt ngây, chấm với muối tiêu kèm rau răm, ăn một lần sẽ nhớ đời! Út Ngoan, người giả tiếng dơi nổi tiếng trong đám bạn của tôi có lần buộc miệng:

     – Nghĩ lại thấy mình cũng ác, lợi dụng “tinh thần đoàn kết” của loài dơi để kiếm miếng ăn coi bộ hơi… tàn nhẫn!

     Câu “buộc miệng” đó của Ngoan khiến tôi nuốt không trôi miếng dơi đang ngậm trong miệng. Nhưng không sao, con người đôi lúc còn lợi dụng nhau để tồn tại thì buồn làm gì sự lơi dụng mang tính sinh tồn của loài người với động vật bật thấp?

(còn 1 kỳ nữa)

Ngọc Vinh

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác